20
02-2022

Dòng vốn quốc tế chảy thế nào trong năm 2021?

Tài chính quốc tế

FDI vào Việt Nam tăng trong lúc toàn cầu giảm

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế ( FDI ) ĐK vào Nước Ta 10 tháng đầu năm theo hình thức ĐK mới, kiểm soát và điều chỉnh vốn và góp vốn, mua CP, mua phần vốn góp đạt 23,74 tỷ USD, tăng 1,1 % so với cùng kỳ năm 2020 .
Trong khi đó, theo Báo cáo góp vốn đầu tư 2021 của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển ( UNCTAD ) mới công bố, dòng vốn FDI toàn thế giới dự kiến sẽ chạm đáy vào năm 2021 và hồi sinh một phần với mức tăng khoảng chừng 10-15 %. Tác động của đại dịch khiến tổng thể các thành phần của FDI đều giảm. Sự thu hẹp toàn diện và tổng thể trong hoạt động giải trí dự án Bất Động Sản mới, tích hợp với sự trì hoãn trong hoạt động giải trí mua và bán và sáp nhập xuyên biên giới ( M&A s ), đã dẫn đến dòng vốn góp vốn đầu tư CP giảm hơn 50 % .

Đầu tư mới (Greenfield Investment – GI), vốn quan trọng hơn đối với các nước đang phát triển – tiếp tục xu hướng tiêu cực trong suốt năm 2020 và kéo sang quý đầu của năm 2021. Các khoản đầu tư mới vào ngành công nghiệp và các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng mới ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Vẫn theo UNCTAD, việc lôi cuốn vốn FDI sẽ không đồng đều. Các nền kinh tế tài chính tăng trưởng được kỳ vọng sẽ thôi thúc tăng trưởng FDI toàn thế giới, với mức tăng trưởng năm 2021 dự kiến ở mức 15 %, cả do hoạt động giải trí M&A xuyên biên giới diễn ra can đảm và mạnh mẽ và tương hỗ góp vốn đầu tư công quy mô lớn. Dòng vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế FDI vào châu Á sẽ vẫn duy trì không thay đổi ( 8 % ) ; khu vực này đã nổi lên như một điểm đến mê hoặc so với góp vốn đầu tư quốc tế trong suốt thời kỳ đại dịch. FDI vào châu Phi, châu Mỹ La-tinh và Caribe sẽ không hề hồi sinh đáng kể trong tương lai gần .

Môi trường đầu tư sẽ quyết định

Theo UNCTAD, Trung Quốc, Nước Hàn và nhất là Khu vực Đông Nam Á đang trở thành những địa phận hoạt động giải trí lý tưởng. Tổng góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế trên quốc tế được thống kê năm 2013 đạt 1.450 tỷ USD. Vào lúc mà cả EU lẫn Bắc Mỹ chỉ giành được 250 tỷ USD của số vốn góp vốn đầu tư trên, thì phần đổ vào châu Á là 426 tỷ USD. Châu Á chiếm đến gần 30 % tổng FDI của toàn thế giới. Đứng đầu list vẫn là Trung Quốc, với 124 tỷ USD, chưa kể Hồng Kông và Đài Loan. Như vậy, một mình Trung Quốc chiếm đến 1/3 tổng góp vốn đầu tư quốc tế hướng về các nền kinh tế tài chính đang trỗi dậy của toàn châu Á .
Các chủ trương kinh tế tài chính hạn chế của hầu hết các nước đang tăng trưởng ở châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi thường xuất phát từ khuynh hướng tả khuynh của họ. Điều này, cùng với những quyền lợi lớn hơn của việc góp vốn đầu tư vào Tây Âu, đã ngăn cản mọi nguồn vốn FDI đáng kể vào các khu vực Mỹ Latinh và châu Phi .
Thay vì sự thù địch trước đó so với các tập đoàn lớn đa vương quốc ( MNE ), các cơ quan chính phủ hiện đã xây dựng các cơ quan lôi cuốn FDI. Do đó, hai yếu tố áp lực đè nén cạnh tranh đối đầu nóng bức tích tụ tại các điểm đến FDI bắt đầu và tự do hóa thoáng rộng đồng thời của các nền kinh tế tài chính đã tác động ảnh hưởng song song để giúp lôi cuốn FDI tìm kiếm hiệu suất cao vào các nước ASEAN .

Malaysia luôn duy trì một chế độ tự do đối với đầu tư nước ngoài. Đặc biệt vào cuối thập niên 80, sau khi tiếp tục tự do hóa các chính sách đầu tư nước ngoài, đảm bảo các ưu đãi và cơ sở vật chất hấp dẫn, tăng cường các nỗ lực xúc tiến đầu tư, dòng vốn FDI đổ vào lĩnh vực sản xuất tăng đáng kể. FDI đóng góp đáng kể không chỉ vào sự tăng trưởng GDP, mà còn từ góc độ thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển Malaysia từ cơ bản là sản xuất thô sơ sang một nền kinh tế công nghiệp hóa.

Trung Quốc khởi đầu triển khai chủ trương Open “ từ từ ”, chỉ lôi cuốn FDI vào 1 số ít vùng đặc biệt quan trọng ( Khu kinh tế tài chính đặc biệt quan trọng – SEZ ) như một cuộc thử nghiệm về vận dụng Luật Liên doanh quy trình tiến độ 1979 – 1985. Sau thành công xuất sắc của 4 SEZ, cơ quan chính phủ Trung Quốc liên tục khuyến khích FDI, xây dựng 14 thành phố mở duyên hải trong năm 1984 .
Giai đoạn 1986 – 1991 lưu lại sự Open can đảm và mạnh mẽ với việc mở ra thị trường hoán đổi ngoại tệ năm 1985, việc phát hành “ Các pháp luật của Hội đồng Nhà nước về khuyến khích góp vốn đầu tư quốc tế ” năm 1986, và “ Luật về Các doanh nghiệp 100 % chiếm hữu quốc tế ” .

Liên tục cải cách và mở cửa

Năm 1992, Trung Quốc thông tin liên tục chủ trương thay đổi và Open với tiềm năng “ thiết kế xây dựng một nền kinh tế thị trường theo xu thế xã hội chủ nghĩa ”. nhà nước tìm cách lan rộng ra chủ trương khuyến khích FDI ra toàn quốc gia. Giai đoạn này tận mắt chứng kiến sự phó thác quyền lực tối cao từ chính quyền sở tại TW cho các chính quyền sở tại địa phương, dẫn đến tác dụng hàng ngàn khu kinh tế tài chính và công nghệ tiên tiến được xây dựng .
Năm 1997, để đối phó với ảnh hưởng tác động của khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính châu Á, Trung Quốc quyết định hành động phát hành chủ trương tự do hóa đồng tiền nhằm mục đích nâng cao cầu trong nước, chống lạm phát kinh tế và liên tục nỗ lực lôi cuốn FDI. Việc gia nhập WTO ghi lại việc từng bước Open trọn vẹn nền kinh tế tài chính .

Kết quả của việc cải cách và mở cửa nền kinh tế giúp Trung Quốc trở thành điểm đến hàng đầu của thu hút FDI của thế giới, góp phần nâng cao sản lượng công nghiệp, tăng doanh thu về thuế, gia tăng xuất khẩu, tạo lượng việc làm khổng lồ và hấp thụ chuyển giao công nghệ và bí quyết kỹ thuật. Theo nghiên cứu của UNCTAD, có 400 trong số 500 công ty đa quốc gia lớn nhất đã đầu tư vào Trung Quốc.

Nước Ta cũng là một ví dụ tiêu biểu vượt trội cho việc Open nền kinh tế tài chính đón dòng vốn FDI. Nước Ta có mức độ Open kinh tế tài chính và thương mại cao. Về thương mại, là thành viên của ASEAN, được hưởng thị trường thương mại tự do của Cộng đồng ASEAN và chuỗi hiệp định thương mại tự do “ ASEAN + 1 ” .
Nước Ta cũng đã tham gia CPTPP tiêu chuẩn cao và RCEP gồm có Trung Quốc ; đã ký Hiệp định Thương mại Tự do Nước Ta – EU được gọi là “ Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ mới ” với EU và thuế quan so với EU sẽ từ từ được giảm xuống 0. Chiến tranh thương mại đã khiến mức thuế quan giữa Trung Quốc và Mỹ tăng lên đáng kể, đồng thời làm điển hình nổi bật lợi thế về thuế quan thấp của Nước Ta .
Các giải pháp tự do hóa của Nước Ta không chỉ nhằm mục đích giảm ngân sách thương mại, mà còn nhằm mục đích thôi thúc cải cách trong nước, đạt được Open chất lượng cao và tạo ra một chuỗi công nghiệp phong phú và vững chắc. Về góp vốn đầu tư, tình hình chính trị của Nước Ta không thay đổi và khoanh vùng phạm vi góp vốn đầu tư được phép lan rộng ra. Theo Chỉ số hạn chế FDI năm 2019 do OECD tổng hợp, Nước Ta cởi mở hơn với góp vốn đầu tư quốc tế so với Trung Quốc nhưng vẫn đứng sau Nước Singapore và Myanmar trong khối ASEAN .

Tác giả: Admin