20
02-2022

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự di chuyển của dòng vốn quốc tế – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (537.07 KB, 95 trang )

7
Tuy nhiên, việc phân loại này còn tùy thuộc vào từng quốc gia. Nếu như Thái Lan phân loại dòng vốn thành khoản vay dài hạn, FDI, FPI và loại đầu tư nước ngoài
khác OFI – là tổng dòng vốn vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại và tài khoản tiền gửi của những người không cư trú bằng bath, thì Malaysia lại phân loại dòng vốn
thành vốn vay dài hạn, FDI và OFI bao gồm cả dòng vốn đầu tư gián tiếp và những khoản nợ ngắn hạn bên ngoài của ngân hàng thương mại.…

1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự di chuyển của dòng vốn quốc tế

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự luân chuyển của dòng vốn quốc tế, và vì thế ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vốn. Khi mậu dòch tiến triển, chính phủ các nước có
thẩm quyền đối với dòng tiền lưu chuyển vào nước đó. Chẳng hạn như chính phủ một nước có thể ấn đònh một loại thuế đặc biệt đánh trên thu nhập tích lũy của các nhà
đầu tư nội đòa đã đầu tư ở các thò trường nước ngoài. Một loại thuế như vậy có thể ngăn chặn dân chúng chuyển vốn ra nước ngoài, và nhờ đó có thể làm tăng tài khoản
vốn nội đòa. Tuy nhiên các nước khác bò ảnh hưởng của thuế này có thể trả đũa bằng cách áp dụng một loại thuế tương tự cho dân chúng nước họ. Kết quả là sự sút giảm
đầu tư nước ngoài của các nhà đầu tư đa quốc gia.
Sự luân chuyển vốn cũng chòu ảnh hưởng bởi các biện pháp kiểm soát vốn của các nước. Việc áp dụng các biện pháp này nhằm đối phó với một sự yếu kém về cấu
trúc trong vò thế cán cân thanh toán của quốc gia. Ngay cả những nước như c, Đan Mạch, Pháp, Na Uy có lúc cũng đã áp dụng biện pháp hạn chế chuyển nội tệ ra nước
ngoài, dù các năm gần đây đã trở nên thoáng hơn. Các nhà trung gian tài chính đang mong chờ một ngày các hạn chế được nới lỏng để họ có thể cạnh tranh mãnh liệt hơn
trên cơ sở toàn cầu.
Kết cấu dân số cũng ảnh hưởng đến sự luân chuyển các dòng vốn. Trong thập niên 1980, dân số Mỹ rất trẻ và nhìn chung những người trẻ cần nhiều vốn hơn là
cung cấp cho thò trường cơ bản. Sự thiếu hụt được trang trải bởi đầu tư không phải của Mỹ trong các thò trường vốn Mỹ. Thời gian trôi qua, tuổi trung bình của dân số thành
niên Mỹ tăng lên, sự thâm hụt vốn giảm và do đó nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư không phải của Mỹ cũng giảm.
Các biến động tỷ giá hối đoái dự báo được do các nhà đầu tư đầu tư vào chứng khoán cũng có thể ảnh hưởng đến tài khoản vốn. Nếu nội tệ của một nước được dự
kiến mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán của nước đó để hưởng lợi từ các biến động tiền tệ. Ngược lại, cán cân tài khoản vốn của
8
một nước dự kiến sẽ giảm nếu đồng nội tệ của nước đó dự kiến suy yếu, khi các yếu tố khác không đổi. Khi muốn đánh giá tính biến động của tài khoản vốn ta phải xem
xét đồng thời tất cả các yếu tố. Một quốc gia có thể có sự sụt giảm trong tài khoản vốn ngay cả khi có lãi suất hấp dẫn, nếu đồng ngoại tệ của quốc gia này dự kiến sẽ
giảm giá. Ngoài ra các nhân tố thuộc về luật lệ, chính sách điều hành của chính phủ các nước cũng có tác động nhất đònh đến các dòng vốn quốc tế. Trong phạm vi đề tài
này, chúng ta chỉ quan tâm đến ảnh hưởng của kiểm soát vốn đến các dòng vốn quốc tế.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN QUỐC TẾ 1.2.1. Những ảnh hưởng của dòng vốn quốc tế đến nền kinh tế.
Sự luân chuyển vốn giữa các quốc gia rõ ràng mang đến nhiều lợi ích. Đối với các nước đang phát triển, các dòng vốn di chuyển tự do có vai trò quan trọng đến nỗi
chúng được coi là động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Vốn từ bên ngoài sẽ bổ sung vào sự thiếu hụt nguồn tài chính nội đòa cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và phát triển kinh tế mà không cần phải gia tăng tỷ lệ tiết kiệm.
Các nhà đầu tư quốc tế sẽ giúp phát triển thò trường và hoàn thiện các chính sách tài chính quốc gia. Họ cung cấp các loại hình dòch vụ mới và các kỹ thuật đầu tư tiên
tiến, giúp các tổ chức tài chính nội đòa học tập kinh nghiệm phát triển, và giúp các nước này hoàn thiện các cơ chế quản lý giám sát của mình. Lưu chuyển vốn cho phép
các quốc gia tránh được những sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư trong thời kỳ khó khăn, giúp cho nền kinh tế có điều kiện phục hồi vì nhu cầu và đầu tư vẫn bảo đảm,
đồng thời cung cấp tài chính cho các quốc gia để cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế nội đòa.
Trên phương diện toàn cầu, các dòng lưu chuyển vốn giúp phân bố có hiệu quả và sử dụng tốt nhất các nguồn tiết kiệm thế giới. Không có các dòng vốn quốc tế, thì
không thể có sự cân bằng suất sinh lợi từ đầu tư giữa các nước, dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực: những dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao ở một số nước có thể
không được thực hiện vì thiếu vốn, trong khi những dự án có sinh lợi thấp hơn ở những nơi khác lại được cấp vốn. Luân chuyển vốn tự do làm cho lãi suất toàn cầu trở thành
chi phí sử dụng vốn và suất sinh lợi từ tiết kiệm tương xứng, chứ không phải lãi suất quốc gia. Tiết kiệm và đầu tư sẽ cân xứng trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạm
vi quốc gia. Như vậy, trong tình huống lý tưởng, đầu tư sẽ được tái phân bổ hướng tới
9
những dự án sinh lời nhất trên cơ sở đã điều chỉnh rủi ro. Các dòng chảy vốn còn tạo ra cơ hội cho các giao dòch tiêu dùng tương lai, đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế
và tối thiểu rủi ro…
Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng đơn giản như những gì các học thuyết kinh tế chỉ ra. Trước hết, sự di chuyển vốn tự do không phải lúc nào cũng mang lại sự
phân phối tối ưu các nguồn lực, do các nhà đầu tư không thể đưa ra các quyết đònh đầu tư hoàn toàn chính xác trong tình trạng thông tin không đầy đủ và thiếu cân xứng.
Tình trạng này cũng khiến cho họ không đánh giá được hết các rủi ro liên quan đến các hoạt động của mình và do vậy, họ có xu hướng bắt chước theo những gì mà các
nhà đầu tư khác làm. Hiện tượng này được mô tả là “hành vi cư xử theo đám đông”.
Thứ hai là sự phát triển nhảy vọt trong lónh vực tài chính đã khiến các nhà đầu tư có thể đầu tư vào bất kỳ một thò trường nước ngoài xa xôi nào hoặc rút vốn ra khỏi thò
trường đó một cách dễ dàng điều này đặc biệt đúng với các trường hợp vốn ngắn hạn. Kết quả là các dòng vốn có thể dễ dàng đổi chiều một cách bất ngờ với quy mô
lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát hiện tượng đảo ngược dòng vốn, dẫn đến thực trạng là: khi các dòng vốn đổ vào một quốc gia một cách quá mức, nó có xu hướng gây ra
tình trạng quá nóng cho nền kinh tế, làm cho các hoạt động đầu tư trở nên kém hiệu quả, đi kèm là tình trạng “bong bóng” trong giá tài sản và lạm phát tăng cao, bên
cạnh đó nguồn cung ngoại tệ dồi dào khiến cho tỷ giá dễ có xu hướng bò đánh giá cao so với giá trò thực của nó. Ngược lại, khi xảy ra tình trạng rút vốn, dòng lũ vốn chảy ra
này có thể làm tiêu tan cả nền kinh tế của một quốc gia. Điều đáng nói ở đây là sự di chuyển của các dòng vốn này nhiều khi không được đưa vào thực trạng những nhân tố
nền tảng của nền kinh tế quốc gia đó, kết quả là ngay cả quốc gia có một cơ sở kinh tế vững chắc cũng khó có thể tránh khỏi sự tấn công của các dòng vốn. Đây chính là
các cuộc khủng hoảng mang đặc điểm của thế kỷ 21, một cuộc khủng hoảng cán cân vốn, đối lập với cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai truyền thống của thế kỷ 20.
Cuối cùng, việc tiếp cận quá dễ dàng với các nguồn tài trợ quốc tế có thể dẫn đến gánh nặng nợ quá mức, gây tác động xấu đến sự thònh vượng của quốc gia, đặc
biệt là trong trường hợp nợ của nhà nước và các khoản nợ được vay ngắn hạn. Nợ nhà nước lại là phần trách nhiệm của toàn thể đất nước, không phụ thuộc vào thành công
hay thất bại của một hoạt động riêng lẻ nào được tài trợ bằng khoản tiền đi vay, do đó khuynh hướng sử dụng không có hiệu quả nguồn vốn này là trường hợp thường gặp,
đặc biệt ở các nước đang phát triển. Trong khi đó, các nhà cho vay lại thường thích
10
cung cấp tín dụng cho các chính phủ, bởi vì một quan điểm đơn giản là nợ của những nước có chủ quyền thì dó nhiên sẽ được hoàn trả. Như vậy, việc vay nợ thì dễ dàng,
trong khi hiệu quả đầu tư để bảo đảm trả nợ thì lại thấp, dẫn đến tình trạng nợ chồng nợ, và cuối cùng là mất khả năng chi trả.
Tuy nhiên, không vì thế mà các quốc gia ngăn cản sự di chuyển của các dòng vốn qua biên giới, bởi xét cho cùng, vốn đầu tư vẫn là một thành phần tối quan trọng
cho sự phát triển. Vấn đề đặt ra là một giải pháp nhằm tối đa hóa các lợi ích mà vốn mang lại, trong khi tối thiểu hóa được các rủi ro của chúng. Đối với những quốc gia có
nền tài chính tiền tệ yếu kém, hệ thống các qui đònh còn mỏng manh, thì kiểm soát vốn là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ thò trường tiền tệ nội đòa.

1.2.2. Kiểm soát vốn có phải là việc làm cần thiết hay không

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự luân chuyển của dòng vốn quốc tế, và vì thế ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vốn. Khi mậu dòch tiến triển, chính phủ các nước cóthẩm quyền đối với dòng tiền lưu chuyển vào nước đó. Chẳng hạn như chính phủ một nước có thể ấn đònh một loại thuế đặc biệt đánh trên thu nhập tích lũy của các nhàđầu tư nội đòa đã đầu tư ở các thò trường nước ngoài. Một loại thuế như vậy có thể ngăn chặn dân chúng chuyển vốn ra nước ngoài, và nhờ đó có thể làm tăng tài khoảnvốn nội đòa. Tuy nhiên các nước khác bò ảnh hưởng của thuế này có thể trả đũa bằng cách áp dụng một loại thuế tương tự cho dân chúng nước họ. Kết quả là sự sút giảmđầu tư nước ngoài của các nhà đầu tư đa quốc gia.Sự luân chuyển vốn cũng chòu ảnh hưởng bởi các biện pháp kiểm soát vốn của các nước. Việc áp dụng các biện pháp này nhằm đối phó với một sự yếu kém về cấutrúc trong vò thế cán cân thanh toán của quốc gia. Ngay cả những nước như c, Đan Mạch, Pháp, Na Uy có lúc cũng đã áp dụng biện pháp hạn chế chuyển nội tệ ra nướcngoài, dù các năm gần đây đã trở nên thoáng hơn. Các nhà trung gian tài chính đang mong chờ một ngày các hạn chế được nới lỏng để họ có thể cạnh tranh mãnh liệt hơntrên cơ sở toàn cầu.Kết cấu dân số cũng ảnh hưởng đến sự luân chuyển các dòng vốn. Trong thập niên 1980, dân số Mỹ rất trẻ và nhìn chung những người trẻ cần nhiều vốn hơn làcung cấp cho thò trường cơ bản. Sự thiếu hụt được trang trải bởi đầu tư không phải của Mỹ trong các thò trường vốn Mỹ. Thời gian trôi qua, tuổi trung bình của dân số thànhniên Mỹ tăng lên, sự thâm hụt vốn giảm và do đó nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư không phải của Mỹ cũng giảm.Các biến động tỷ giá hối đoái dự báo được do các nhà đầu tư đầu tư vào chứng khoán cũng có thể ảnh hưởng đến tài khoản vốn. Nếu nội tệ của một nước được dựkiến mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán của nước đó để hưởng lợi từ các biến động tiền tệ. Ngược lại, cán cân tài khoản vốn củamột nước dự kiến sẽ giảm nếu đồng nội tệ của nước đó dự kiến suy yếu, khi các yếu tố khác không đổi. Khi muốn đánh giá tính biến động của tài khoản vốn ta phải xemxét đồng thời tất cả các yếu tố. Một quốc gia có thể có sự sụt giảm trong tài khoản vốn ngay cả khi có lãi suất hấp dẫn, nếu đồng ngoại tệ của quốc gia này dự kiến sẽgiảm giá. Ngoài ra các nhân tố thuộc về luật lệ, chính sách điều hành của chính phủ các nước cũng có tác động nhất đònh đến các dòng vốn quốc tế. Trong phạm vi đề tàinày, chúng ta chỉ quan tâm đến ảnh hưởng của kiểm soát vốn đến các dòng vốn quốc tế.1.2. TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN QUỐC TẾ 1.2.1. Những ảnh hưởng của dòng vốn quốc tế đến nền kinh tế.Sự luân chuyển vốn giữa các quốc gia rõ ràng mang đến nhiều lợi ích. Đối với các nước đang phát triển, các dòng vốn di chuyển tự do có vai trò quan trọng đến nỗichúng được coi là động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Vốn từ bên ngoài sẽ bổ sung vào sự thiếu hụt nguồn tài chính nội đòa cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóavà phát triển kinh tế mà không cần phải gia tăng tỷ lệ tiết kiệm.Các nhà đầu tư quốc tế sẽ giúp phát triển thò trường và hoàn thiện các chính sách tài chính quốc gia. Họ cung cấp các loại hình dòch vụ mới và các kỹ thuật đầu tư tiêntiến, giúp các tổ chức tài chính nội đòa học tập kinh nghiệm phát triển, và giúp các nước này hoàn thiện các cơ chế quản lý giám sát của mình. Lưu chuyển vốn cho phépcác quốc gia tránh được những sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư trong thời kỳ khó khăn, giúp cho nền kinh tế có điều kiện phục hồi vì nhu cầu và đầu tư vẫn bảo đảm,đồng thời cung cấp tài chính cho các quốc gia để cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế nội đòa.Trên phương diện toàn cầu, các dòng lưu chuyển vốn giúp phân bố có hiệu quả và sử dụng tốt nhất các nguồn tiết kiệm thế giới. Không có các dòng vốn quốc tế, thìkhông thể có sự cân bằng suất sinh lợi từ đầu tư giữa các nước, dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực: những dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao ở một số nước có thểkhông được thực hiện vì thiếu vốn, trong khi những dự án có sinh lợi thấp hơn ở những nơi khác lại được cấp vốn. Luân chuyển vốn tự do làm cho lãi suất toàn cầu trở thànhchi phí sử dụng vốn và suất sinh lợi từ tiết kiệm tương xứng, chứ không phải lãi suất quốc gia. Tiết kiệm và đầu tư sẽ cân xứng trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạmvi quốc gia. Như vậy, trong tình huống lý tưởng, đầu tư sẽ được tái phân bổ hướng tớinhững dự án sinh lời nhất trên cơ sở đã điều chỉnh rủi ro. Các dòng chảy vốn còn tạo ra cơ hội cho các giao dòch tiêu dùng tương lai, đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tếvà tối thiểu rủi ro…Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng đơn giản như những gì các học thuyết kinh tế chỉ ra. Trước hết, sự di chuyển vốn tự do không phải lúc nào cũng mang lại sựphân phối tối ưu các nguồn lực, do các nhà đầu tư không thể đưa ra các quyết đònh đầu tư hoàn toàn chính xác trong tình trạng thông tin không đầy đủ và thiếu cân xứng.Tình trạng này cũng khiến cho họ không đánh giá được hết các rủi ro liên quan đến các hoạt động của mình và do vậy, họ có xu hướng bắt chước theo những gì mà cácnhà đầu tư khác làm. Hiện tượng này được mô tả là “hành vi cư xử theo đám đông”.Thứ hai là sự phát triển nhảy vọt trong lónh vực tài chính đã khiến các nhà đầu tư có thể đầu tư vào bất kỳ một thò trường nước ngoài xa xôi nào hoặc rút vốn ra khỏi thòtrường đó một cách dễ dàng điều này đặc biệt đúng với các trường hợp vốn ngắn hạn. Kết quả là các dòng vốn có thể dễ dàng đổi chiều một cách bất ngờ với quy môlớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát hiện tượng đảo ngược dòng vốn, dẫn đến thực trạng là: khi các dòng vốn đổ vào một quốc gia một cách quá mức, nó có xu hướng gây ratình trạng quá nóng cho nền kinh tế, làm cho các hoạt động đầu tư trở nên kém hiệu quả, đi kèm là tình trạng “bong bóng” trong giá tài sản và lạm phát tăng cao, bêncạnh đó nguồn cung ngoại tệ dồi dào khiến cho tỷ giá dễ có xu hướng bò đánh giá cao so với giá trò thực của nó. Ngược lại, khi xảy ra tình trạng rút vốn, dòng lũ vốn chảy ranày có thể làm tiêu tan cả nền kinh tế của một quốc gia. Điều đáng nói ở đây là sự di chuyển của các dòng vốn này nhiều khi không được đưa vào thực trạng những nhân tốnền tảng của nền kinh tế quốc gia đó, kết quả là ngay cả quốc gia có một cơ sở kinh tế vững chắc cũng khó có thể tránh khỏi sự tấn công của các dòng vốn. Đây chính làcác cuộc khủng hoảng mang đặc điểm của thế kỷ 21, một cuộc khủng hoảng cán cân vốn, đối lập với cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai truyền thống của thế kỷ 20.Cuối cùng, việc tiếp cận quá dễ dàng với các nguồn tài trợ quốc tế có thể dẫn đến gánh nặng nợ quá mức, gây tác động xấu đến sự thònh vượng của quốc gia, đặcbiệt là trong trường hợp nợ của nhà nước và các khoản nợ được vay ngắn hạn. Nợ nhà nước lại là phần trách nhiệm của toàn thể đất nước, không phụ thuộc vào thành cônghay thất bại của một hoạt động riêng lẻ nào được tài trợ bằng khoản tiền đi vay, do đó khuynh hướng sử dụng không có hiệu quả nguồn vốn này là trường hợp thường gặp,đặc biệt ở các nước đang phát triển. Trong khi đó, các nhà cho vay lại thường thích10cung cấp tín dụng cho các chính phủ, bởi vì một quan điểm đơn giản là nợ của những nước có chủ quyền thì dó nhiên sẽ được hoàn trả. Như vậy, việc vay nợ thì dễ dàng,trong khi hiệu quả đầu tư để bảo đảm trả nợ thì lại thấp, dẫn đến tình trạng nợ chồng nợ, và cuối cùng là mất khả năng chi trả.Tuy nhiên, không vì thế mà các quốc gia ngăn cản sự di chuyển của các dòng vốn qua biên giới, bởi xét cho cùng, vốn đầu tư vẫn là một thành phần tối quan trọngcho sự phát triển. Vấn đề đặt ra là một giải pháp nhằm tối đa hóa các lợi ích mà vốn mang lại, trong khi tối thiểu hóa được các rủi ro của chúng. Đối với những quốc gia cónền tài chính tiền tệ yếu kém, hệ thống các qui đònh còn mỏng manh, thì kiểm soát vốn là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ thò trường tiền tệ nội đòa.

Tác giả: Admin