19
02-2022

Sơ đồ 1: Sơ đồ luân chuyển vốn – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 329.07 KB, 59 trang )

Gửi tiền

Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm “cầu

nối” giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi

ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại

lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm

được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi

suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho

Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng

này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp

ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và

để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn

nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân

chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại,

nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để

thực hiện các chức năng sau:

1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.

Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra

thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang

tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng

đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân

hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền

kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày

càng được mở rộng.

Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng

thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện

thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho

khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng

nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với

Ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân

hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn

cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách

hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền

của Ngân hàng thương mại.

1.2.3. Chức năng tạo tiền.

Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ

một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng

chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn

hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của

hệ thống ngân hàng.

Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền

gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đã để

lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó

nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của

vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng

thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền.

2. VỐN – TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN HUY ĐỘNG ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân

hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư

hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng được thể

hiện dưới các dạng: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động.

2.1.1. Nguồn vốn chủ sỡ hữu.

Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân

hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn

của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước

khác nhau, định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất

vốn tự có bao gồm các thành phần sau:

1 – Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng doanh

nghiệp.

2 – Các quỹ dự trữ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh

doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu

vốn như: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính….

3 – Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng

4 – Các khoản nợ được coi như vốn.

Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân

hàng, song lạ là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.

Do tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ

và điều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của

ngân hàng, thì vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký

thác của ngân hàng khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy

định mức vốn tự có của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản

có rủi ro quy đổi, điều này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối

lượng giới hạn vốn chủ sở hữu đã được xem như là tài sản bảo vệ cho

những người gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như sự bảo

đảm thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần

duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữ để

ngân hàng khỏi bị đe doạ bởi sự thua lỗ, để có thể tiếp tục hoạt động.

Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và để bảo vệ người

gửi tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu

của Ngân hàng thương mại. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ

quan quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như các

ngân hàng chỉ có thể cho một khách hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn

tự có của ngân hàng. Nếu như ngân hàng cho vay quá số đó sẽ ảnh hưởng

đến hoạt động an toàn của ngân hàng.

2.1.2. Nguồn vốn huy động.

Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là

những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và

các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký

thác, các nghiệp vụ khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.

Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác

nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyển sở hữu và có

trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi

có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không

kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh

doanh của Ngân hàng. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình

thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết

kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi

vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm

uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các

phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động từ máy ATM…

Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều

nguồn khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ

trọng lớn nhất, chiếm khoảng từ 70% – 80% và nó có tính biến động. Nhất

là đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy

động chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa

bàn hoạt động. Vì vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu,

phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn

để có đối sách phù hợp.

2.2. Vốn huy động và vai trò của nó đối với Ngân hàng thương mại.

Vai trò đầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô

của hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với

các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay

kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này

cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường

trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi

hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nên

các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về

chính sách, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp

dân cư và các thành phần kinh tế.

Thứ hai là vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán và đảm

bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tại

và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín

trên thị trường là điều trọng yếu. Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở

khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán

của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng

thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng

thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn,

tiến hành các hoạt động cạnh tranh có qhj, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh

thế của ngân hàng trên thị trường.

2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại.

2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.

2.3.1.1. Tiền gửi không kỳ hạn.

Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng

không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một

mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì,

tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút

ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này,

ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi

khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại:

* Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân

hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và

các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh

của khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng

gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt:

Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi… Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông

qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây

là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất

kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn

kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng

do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản

của khách hàng.

* Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn,

khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi

không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút

bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi

suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán.

Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác

định được thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử

dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.

2.3.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn.

Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận

trước về thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn

định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh

toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử

dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối

với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3

tháng, 6 tháng…. mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi

phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại

tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên

loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

2.3.1.3. Tiền gửi tiết kiệm.

Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi.

Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một

cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng

giao dịch.

Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập

của cá nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng

đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiền

gửi tiết kiệm có ba loại:

* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất

cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho

người khác. Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối

với loại tiền gửi này các Ngân hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn

với tiền gửi thanh toán.

* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về

thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ

hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng

thương mại Việt Nam thường huy động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ

ba tháng đến một năm.

* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước

công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiền

từ một năm trở lên, do đó ngân hàng chủ động sử dụng nguồn vốn này, nó

tạo cho ngân hàng có tính chủ động sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn.

Để thu hút vốn này, ngân hàng thường phải trả lãi suất cao.

2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá.

Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vốn

thực chất là các giấy nhận nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân

hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở

một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.

Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử

dụng có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn

thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.

Ngân hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:

2.3.2.1. Phát hành trái phiếu:

Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngân

hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân

hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc

phát hành trái phiếu, các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngân

hàng Trung Ương, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và

có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng.

2.3.2.2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi.

Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng.

người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn

khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường

tiền tệ.

2.3.2.3. Phát hành kỳ phiếu.

Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 năm). Nó có đặc điểm

giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nó được

sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng.

2.3.2.4. Giấy tờ có giá khác.

Điển hình là việc phát hành EURO DOLLAR. Đây là hình thức phát

hành phiếu nợ để thu hút vốn ở nước ngoài. Nó có đặc điểm là chỉ dùng

huy động vốn bằng đô la và khi trả lãi và vốn gốc cũng bằng đô la. Đối với

loại này ngân hàng sử dụng để thu hút vốn huy động ngắn hạn (3 tháng). Ở

các trung tâm tài chính, loại phiếu nợ này được chấp nhận như là đô la.

Quyền phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở một

số ngân hàng đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập

khẩu. Các ngân hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước

và nước ngoài, còn với các ngân hàng khác chỉ được phát hành ở nước

ngoài.

Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngân

hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát

hành các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đến

khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động phù

hợp.

2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác.

Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua

quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương

hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng

khác. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy

động vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời

gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại

khác để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng.

Nếu Ngân hàng thương mại không thoả mãn được nhu cầu đó từ phía

các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo là đi vay của Ngân

hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các

Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn:

Vốn vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương

mại hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp những

thiếu hụt tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang

các giấy tờ có giá đến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp

vốn).

Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng

thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm

tiền Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân

hàng thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng

nhằm cứu nguy cho các Ngân hàng thương mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ

của các Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ

thống ngân hàng.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI

NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

HÀNG HẢI HÀ NỘI

1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI HÀ NỘI.

1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ

chức của chi nhánh.

1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh.

Theo Điều 1, Chương 1 của Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Hàng Hải năm 1999 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải gọi tắt

là Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam. Tên gọi bằng tiếng Anh: Vietnam

Maritime Commecrial Stock Bank, gọi tắt Maritime Bank, viết tắt là

MBS.MSB đăng ký hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) cấp

giấy phép hoạt động số 01/NH – GP có hiệu lực kể từ ngày 08/6/1991. Theo

quy định số 259/QĐ/NH5 với số vốn ban đầu là 40 tỷ VNĐ. Sau đó, Ngân

hàng bắt đầu kinh doanh từ tháng 7 năm 1991 với thời hạn 25 năm, thời

hạn này sẽ thay đổi khi có nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

MSB được thành lập trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các cổ đông.

Vì vậy vốn điều lệ là do các cổ đông đóng góp, MSB tự chủ về tài chính, tự

chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm với khách hàng

của mình trước pháp luật.

Các chi nhánh, các văn phòng đại diện, các Công ty trực thuộc là

pháp nhân duy nhất có con dấu riêng, và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước

theo pháp luật quy định.

MSB có các trụ sở chính: Hải Phòng: (trụ sở chính): Giấy phép hoạt

động số 001/NH – GP ngày 08/6/1991 và các chi nhánh:

+ Chi nhánh tại Hà Nội: Giấy phép hoạt động số 001/NH – GP ngày

08/6/1991.

+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Giấy phép số 001/NH – GP

ngày 08/6/1991.

+ Chi nhánh tại Quảng Ninh: Giấy phép số 0001/NH – GTC ngày

15/9/1992.

+ Chi nhánh tại Cần Thơ: Giấy phép số 0007/NH – GTC ngày

29/3/1993.

+ Chi nhánh tại Đà Nẵng: Giấy chập thuận số 0008/GTC ngày

10/5/1993.

+ Chi nhánh tại Vũng Tàu: quyết định số 185/QĐ – NH5 ngày

12/7/1996.

Tác giả: Admin